Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

Món ăn - bài thuốc từ vịt

Vịt là thức ăn rất thích hợp cho mùa hè, vừa ngon lại vừa bổ, góp phần bảo vệ, tăng cường sức khỏe. Theo Đông y, thịt vịt vị ngọt, hơi mặn, tính lương (mát). Công hiệu thanh nhiệt giải độc, tư âm giáng hỏa, chỉ lỵ ra máu, thích hợp với chứng ăn kém, đại tiện táo, họng khô miệng khát, ra mồ hôi trộm, phù nề, nam giới di tinh, phụ nữ kinh nguyệt ít.

 

Thịt vịt có nhiều protein, lipid, carbohydrate, cholesterol, canxi, phosphor; có hàm lượng sắt, đồng, magie, kẽm rất cao, selen, kali, natri, vitamin A, B1, B2, B6, B12, D, E, K, biotin. Ngoài thịt vịt, các bộ phận khác như đầu vịt, lưỡi vịt, chân vịt, mề vịt, tim vịt cũng có giá trị chữa bệnh.

Canh cải trắng đầu vịt:

Thơm, ngon miệng, vị đặc biệt, có tác dụng thanh nhiệt nhuận táo, tiêu thũng giải độc, lợi thủy thông tiện, có công hiệu thực liệu bảo vệ sức khỏe nhất định đối với chứng nặng ngực phiền nhiệt, môi đỏ cổ đau vào mùa hè. Gồm 1 cái đầu vịt (kể cả cổ), 100g cải trắng, 15g gừng sống, 50g mỡ heo, 5g muối, 1g bột ngọt, 10g rượu gia vị. Đầu vịt nhổ bỏ lông, da miệng, cắt miệng ra rửa sạch, bỏ vào nước sôi chần, để ráo nước, chặt thành vài miếng. Cải trắng rửa sạch, cắt đoạn, để ráo nước. Đổ vào nồi lượng nước thích hợp, bỏ đầu vịt, gừng, rượu gia vị, muối, mỡ heo vào, dùng lửa lớn nấu chín, bỏ cải trắng vào nấu chín, thêm bột ngọt vào là được.

Canh mề vịt củ cải:Có công hiệu thanh nhiệt giải độc, khai vị tiêu thực, nhuận táo lý khí. Thường dùng vào mùa hè, có thể mạnh thân khai vị, bảo đảm thân tâm khỏe mạnh. 1 củ cải trắng to, 2 cái mề vịt mới, 2 lát gừng sống, 4g muối, 10g dầu mè, 1kg nước canh. Mề vịt mổ ra, rửa sạch chất bẩn. Củ cải và gừng sống rửa sạch, gọt vỏ, củ cải xắt miếng, gừng sống xắt lát. Đổ nước vào nồi nấu sôi, bỏ mề vịt, gừng, muối vào, dùng lửa lớn nấu sôi, rồi dùng lửa vừa nấu khoảng 1 giờ, bỏ củ cải vào nấu chín, rưới dầu mè vào là ăn được.

Canh tim vịt:Món này ăn vào mùa hè có thể trừ nóng, mát dạ, giải thần, hạ áp tỉnh não. Đặc biệt thích hợp cho người lớn tuổi gồm 10 quả tim vịt, 10g nấm đông cô ngâm nước, 50g mộc nhĩ ngâm nước, 15g dưa chuột, 10g xì dầu, 1g muối, 2g nước gừng, 5g rượu gia vị, 2g bột ngọt, 750g nước canh. Tim vịt bỏ cuống, rửa sạch máu, cắt làm hai, mỗi bên dùng dao rạch vài đường trên hai mặt, xắt lại miếng mỏng mà vẫn dính liền không đứt, bỏ vào bát, cho rượu, xì dầu vào trộn đều. Nấm đông cô gạch chữ thập. Dưa chuột cũng xắt miếng dài. Mộc nhĩ xắt nhỏ. Đổ nước canh vào nồi, đổ tô tim vịt vào, nấu vừa chín vớt ra, nước canh vớt bọt, bỏ nấm đông cô, mộc nhĩ, dưa chuột, gừng, muối, bột ngọt vào, đợi canh sôi là được.

Canh chân vịt:Món canh này thanh nhiệt khử thấp, lợi hầu sáng mắt; có tác dụng đối với chứng phiền nhiệt, đau họng vào mùa hè. Chân vịt 8 cái, 50g nấm hương ngâm nước, 50g măng, 750g nước canh, 5g mỡ gà, 2g bột ngọt, 3g muối, 10g rượu gia vị. Chân vịt rửa sạch, bỏ vào nước canh, dùng lửa lớn nấu chín, vớt ra, dùng dao tách da theo chiều dọc, lấy xương ra. Đổ nước canh vào nồi, dùng lửa lớn nấu sôi, bỏ chân vịt, nấm đông cô, măng vào nấu sôi vài phút, thêm vào ít nước lạnh; đợi canh sôi lại, vớt bọt, thêm muối, rượu, bột ngọt vào, đợi canh sôi một lúc, múc ra bát, rưới mỡ gà lên là được.

Thịt vịt nấu đậu đỏ tốt cho người bị phù dinh dưỡng,người thiếu máu.

Canh vịt củ kiệu:

Có công hiệu thanh nhiệt khử phiền, khai vị ra mồ hôi, là món canh bảo vệ sức khỏe mùa hè. Thịt vịt 250g (cả xương), 200g củ kiệu, 50g dầu thực vật, 10g gừng, 15g hành, 3g muối, một ít bột ngọt. Thịt vịt rửa sạch, để ráo nước, chặt miếng vuông khoảng 4cm. Củ kiệu lột vỏ, rửa sạch, để ráo nước. Gừng xắt miếng, hành bó lại. Đặt nồi lên bếp, chế dầu vào chờ nóng, cho gừng vào xào thơm, bỏ thịt vịt, muối vào xào vài phút, đổ vào 2 lít nước, cho hành vào, dùng lửa lớn nấu sôi, sau 30 phút bỏ củ kiệu vào nấu, rồi dùng lửa nhỏ, vớt bọt, vớt hành ra, bỏ thêm bột ngọt vào trộn đều là được.Chú ý:Nếu dùng củ kiệu ngâm, có mùi vị đặc biệt thì phải dùng ít muối, tránh để quá mặn.

Cháo thịt vịt nấu nước mía chữa hen suyễn:Thịt vịt nạc 300g, băm nhỏ ướp gia vị, gạo tẻ 100g, nước mía 300ml, ninh nhừ. Cháo chín cho thịt vịt vào đảo đều, đun tiếp cho chín vịt. Ăn ngày 3 lần, liền một tuần.

Thịt vịt đậu đỏ chữa phù dinh dưỡng:Thịt vịt 1kg, đậu đỏ 50g, đậu phộng (lạc nhân) 100g, vỏ bí đao 30g. Nấu thành canh để ăn. Dùng tốt cho cả người thiếu máu.

Thịt vịt nhồi với tỏi chữa viêm thận:Vịt một con làm sạch bỏ lòng, cho vào bụng 50g tỏi (bỏ vỏ) khâu lại, nấu chín ăn cái uống nước, 2-3 ngày ăn một con.

Sưu tầm

 

Bắp rang bơ cay - món ngon ăn vặt mùa đông

Đảm bảo món này sẽ hết veo chỉ trong vài phút dù bạn có làm nhiều hơn dự tính!

Nếu bạn thích ăn bắp rang bơ nhưng lại chán ngấy vị ngọt của nó thì món bắp bơ với hương vị hoàn toàn mới này sẽ làm bạn hài lòng!

Tuy nhiên, bạn cần ăn ngay khi làm xong bởi nước chanh sẽ làm những hạt bỏng nhanh mềm và không giòn lâu. Thế nhưng, đảm bảo rằng món bắp chua chua cay cay này sẽ hết veo chỉ trong vài phút dù bạn có làm nhiều hơn dự tính.

Chúc bạn thành công và ngon miệng!

Món bánh xèo kiểu Hàn Quốc với vị cay đậm đà cũng là món ngon mùa đông bạn nên thử!

 

Sưu tầm

 

Bánh sò chiên giòn: món ăn vặt thơm ngon

Bánh rất giòn lại vừa thơm vừa béo ngậy, trời mùa đông se lạnh được ngồi nhâm nhi đĩa bánh với ly trà hay cà phê thì thật tuyệt!

Món này làm đồ ăn vặt cho các bé cũng cực kì hợp, bánh rất giòn lại vừa thơm vừa béo ngậy, trời mùa đông se lạnh được ngồi nhâm nhi đĩa bánh với ly trà hay cà phê thì thật tuyệt!

Chúc các bạn có một mẻ bánh thành công và thật ngon nhé!

Món bánh sữa chiên Gulab Jamun từ Ấn Độ ăn ngon mà làm rất dễ, mời bạn cùng thử nhé!

 

Sưu tầm

 

Mùa đông, lai rai mực chiên cà ri thật thích!

Mực giòn, thơm thơm vị cà ri, ăn rất đậm đà sẽ là món nhậu ngon tuyệt mùa đông này!

Món mực giòn giòn, thơm thơm vị cà ri sẽ rất thích hợp trong tiết trời se se lạnh. Còn gì bằng những buổi chiều cuối tuần nhâm nhi và tán gẫu cùng bạn bè, người thân bên đĩa mực thơm lừng hấp dẫn!

Chúc các bạn thành công!

Nếu chỉ có mực khô, bạn hãy thử món khô mực chiên bơ , làm món nhậu vô cùng hấp dẫn!

 

Sưu tầm

 

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2012

Tắt rồi, một huyền thoại về voi!

Tôi sững sờ khi nghe tin “Vua” voi Y Prông Êban, hay còn được gọi bằng cái tên thân thuộc Ama Kông, đã ra đi ở tuổi…103. Thế là cái loại rượu thuốc “trường sinh bất lão”, “khỏe mọi nhẽ” mang thêm vinh quang và huyền thoại cho ông cũng không ngăn cản được cái chết. Nhưng sống như ông là hiếm lắm… Cực kỳ hiếm.

Phóng sự củaNguyễn Như Phong

Ông là người hoàn toàn có thể xứng đáng đưa vào kỷ lục Guiness về săn voi - từ năm 1936 cho đến khi giải nghệ là vào năm 1996, lúc đó ông ở tuổi 82, ông đã bắt 301 con voi, trừ 3 con bị chết, còn ông thuần dưỡng được 298 con... Nhưng bên cạnh kỷ lục săn voi, ông còn đáng nể về chuyện gia đình. Năm 1997, ông cưới người vợ thứ 4 tên là H’Khăm, trẻ hơn ông... 51 tuổi, và hơn năm sau thì có cô con gái và đó là người con thứ... 21 của ông

Tôi có may mắn được gặp ông vài lần, nhưng lần vui nhất, đáng nhớ nhất là vào đầu năm 2001, khi vụ bạo loạn Tây Nguyên lần thứ nhất nổ ra. Lần ấy, sau khi chia tay, ông cho tôi một bọc to tướng thuốc về ngâm rượu với những lời quảng cáo không thể nào hay hơn được nữa - bởi ông lấy chính thân mình và chính “khả năng chăn gối” của mình ra để thuyết phục mọi người. Trời ạ, nom ông già hơn chín chục tuổi, vẫn đi bộ ngày mấy chục cây số, bữa chén ba bát cơm đầy, vẫn phục vụ bà trẻ tuần ba bận…Thì còn ai dám nghi ngờ cái rượu mang tên Ama Kông ấy nữa.

Sau này, cũng có vài lần gặp ông, nhưng toàn nghe ông phàn nàn về chuyện bị mất bản quyền loại rượu mang tên ông. Nhưng loại rượu của ông khó uống lắm và rất nóng. Chả biết bổ béo thế nào nhưng cánh phóng viên ai cũng chê.

Thú thực là nếu chỉ nghe kể thì khó có thể tin được một cụ già lại có sức khỏe kỳ lạ như ông Êban. Nhưng từ lúc gặp, ông đã khiến chúng tôi như lạc vào một thế giới bí ẩn của con người.

Ama Kông

Theo như lời giới thiệu của các anh lãnh đạo Vườn Quốc gia Yok Đôn, già Y Prông Êban giỏi tiếng Pháp, tiếng Lào, Campuchia, Thái Lan, tiếng Gia Rai, tiếng M’Nông. Và như để muốn cho mọi người thấy rằng mình còn minh mẫn, ông nói chuyện với tôi bằng tiếng Pháp và yêu cầu tôi dịch lại cho mọi người cùng nghe. Ông nói tiếng Pháp "dẻo" như hát không hề vấp váp và ông kể rằng ngày xưa, ông đã đi học trường Tây. Cho đến năm 1936, vì không thích ra làm quan cho người Pháp, ông bỏ học về buôn đi săn voi.

Trí nhớ của ông thật có một không hai. Ông vẫn nhớ ngày sinh tháng đẻ của 13 người con, trong đó người con cả là ông Amare thì sinh vào 13 giờ ngày 2/9 năm 1940, còn cô con gái út là H'Puc, ông bảo: "Nó được 3 năm hai tháng 15 ngày". Ông còn nhớ vanh vách tên nhiều con voi mà ông yêu quý, nhớ ngày tháng của những lần đi săn được đến 3 con, nhớ cả những lần ngồi uống rượu với Bảo Đại, với Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Diệm, Quốc trưởng Hoàng thân Xi-ha-núc, Nguyễn Văn Thiệu... và sau giải phóng, ông cũng đã được gặp nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng, Chính phủ.

Ama Kông kể lại rằng ông sinh năm 1910, trong một dòng tộc có danh tiếng ở vùng ngã ba Đông Dương (tuy nhiên ông không tin lắm vào năm sinh này bởi lẽ nhiều người già trong vùng vẫn bảo là ông sinh trước năm 1910). Bố ông là tù trưởng vì thế ông được người Pháp cho đi học trường Tây dành cho con cái các tộc trưởng, tù trưởng ở Tây Nguyên. Ông bảo rằng, khi ông cắp sách đến trường thì cũng là lúc ông biết đi tán gái.

Ama Kông cưỡi voi

Ở trường, ông học rất giỏi nhưng lại không thích học. Ngồi trong lớp, nghe những thầy giáo người Pháp giảng dạy nhưng tâm trí ông vẫn để hết vào vùng quê Buôn Đôn của mình, nơi có những cánh rừng bạt ngàn, có những đàn voi hàng trăm con... Học được 7 năm thì ông nghỉ học, mặc dù các thầy giáo Tây ra sức dỗ dành và nhiều quan chức người Pháp hứa sẽ dành cho ông những vị trí cao trong chính quyền. Ông về nhà và lấy vợ. Người vợ đầu tiên của ông là con gái của một tù trưởng rất có uy tín, được người Pháp giao cho làm quan tòa của toàn Tây Nguyên.

Đầu năm 1936, ông bắt đầu học nghề săn voi. Người thầy dạy ông chính là "vua săn voi" Khun Ju Nốp. Có lẽ trên đời này không có nghề nào học vất vả, cực nhọc và nguy hiểm như nghề săn voi. Mới vào nghề, khi đi săn, không được mặc áo mà chỉ đóng khố. Mỗi lần đi săn trở về, khắp người chằng chịt những vết gai cào, lá cứa. Khi ông cởi trần cho chúng tôi xem, khắp người ông chi chít những sẹo, trong đó có một vết sẹo khủng khiếp chạy từ đùi xéo lên bụng, khiến chúng tôi lạnh cả gáy. Đấy là vết sẹo để đời trong một lần đi săn voi. Con voi nhà lồng lên lao vào đánh voi rừng. Ông ngồi trên cổ voi chỉ huy, mải thúc voi đuổi, ông quên không nhìn cây rừng, thế là bị một cành cây khô gạt rơi từ trên voi xuống và đúng vào một bụi nứa đã bị ai đó chặt dở. Một gốc nứa vạt nhọn xuyên dọc đùi ông, lên đến bụng và lòi ra... sau lưng.

Chàng trai nghiến răng chịu đau, rút dao chặt gốc nứa rồi... rút phắt ra. Mặc cho máu tuôn xối xả, anh lấy khăn quấn chặt vết thương và lại trèo lên lưng voi, tiếp tục cuộc đuổi bắt. Sau khi săn được 5 con voi thì sẽ được mặc áo mỗi khi đi săn và khi săn được con thứ một trăm thì được tôn lên hàng thủ lĩnh và từ đó, ăn cơm được ngồi mâm trên, khi đi săn được ngồi trong bành voi, đi ngủ được nằm bên phải nhà. Còn khi đã săn được đến con thứ 200 thì nghiễm nhiên được bạn bè phường săn tôn lên làm "vua". Ở Tây Nguyên, số "vua" săn voi không nhiều, có lẽ ngoài "vua " Khun Ju Nốp là đến già Ama Kông. Số người săn được trên 100 con voi cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay, và một người trong số họ chính là Amare, con trai cả của ông.

Nghề săn voi cũng có nhiều luật khá nghiệt ngã. Khi đuổi voi, ném thòng lọng phải ném vào chân sau, không được ném vào chân trước. Nếu ném trúng chân trước, về phải mổ heo cúng Giàng, xin tạ lỗi. Đàn bà con gái thì cấm được bén mảng đi theo đoàn săn, thậm chí không được đến chỗ nuôi dạy voi và gái chưa chồng càng không bao giờ có diễm phúc được ngồi trên lưng voi. Ông bảo rằng ngày đi học, được nghe giảng lịch sử về hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị cưỡi voi trắng dựng cờ khởi nghĩa ông thích lắm. Và theo ông, có lẽ đó là hai người phụ nữ duy nhất ở Việt Nam được ngồi trên lưng voi.

Ama Kông cùng con trai tắm cho voi

Mỗi lần phường săn voi chuẩn bị đi săn, họ phải cách ly vợ và cả người yêu ít nhất là 7 ngày, thậm chí cái chăn của vợ cũng không được đụng đến. Trước cửa nhà phải cắm cành lá để báo cho mọi người biết rằng nhà không tiếp khách lạ... Trước hôm đi phải làm lễ cúng Giàng và khi rời buôn, trưởng phường săn sẽ thổi tù và báo tin phường săn lên đường. Gia đình, vợ con chỉ được tiễn ra khỏi buôn là phải quay về.

Mỗi phường săn có từ 5 đến 7 thớt voi. Mỗi con voi có một thợ chính và một thợ phụ. Khi phát hiện ra đàn voi thì chỉ huy voi nhà xông vào đánh con voi đầu đàn khiến cho đàn voi tan tác rồi đuổi theo voi con và dùng thòng lọng quăng vào chân sau... Sau đó dùng voi nhà ép voi con đưa về nhà. Bắt được voi, khi trở về, cách buôn khoảng năm cây số là bắt đầu thổi tù và báo tin thắng trận... Vợ con và dân buôn mang rượu cần, cồng chiêng ra đầu buôn đón mừng. Chao ôi, tiếp sau đó là những đêm vui bất tận. Rượu cần chảy như nước sông Sê-rê-pốc, những điệu múa cuồng nhiệt của những chàng trai "Đam San, Xing Nhã" bên cạnh những nàng "H'Bia, H'Lao" có đùi tròn như búp măng, tóc dài như nước suối và vú cong như ngà voi với ánh mắt tình tứ.

Công việc dạy voi được tiến hành trong khoảng hai, ba tháng. Voi là loại vật thông minh, có tình nghĩa nên một khi nó đã thuần phục thì huấn luyện sẽ rất nhanh. Voi không ưa nói nặng lời, càng không thích roi vọt hoặc bất cứ loại nhục hình gì. Voi có trí nhớ rất tốt. Một khi nó đã thù ai thì không bao giờ nó quên và hễ có cơ hội là nó sẽ trả thù. Không bao giờ có chuyện voi vô cớ quật người hoặc phá phách nhà cửa. Người đi săn voi thì không bao giờ ăn thịt voi, không dùng đồ trang sức bằng ngà voi và khi con voi chết, họ cũng sẽ để tang như để tang người thân.

Ông học săn voi chỉ mất có 6 tháng và ngay từ lần ném thòng lọng đầu tiên, ông đã quăng trúng chân sau một chú voi con hơn một tuổi. Từ đó trở đi, hầu như lần nào đi săn ông cũng bắt được voi, có lần hai con thậm chí có lần ba con. Trong đời săn voi của mình, chỉ có khoảng chục lần ông phải trở về tay không. Và không chỉ đi săn voi, ông còn săn bò tót, bẫy hổ, bẫy gấu, đi bắt cá sấu.

Đối với ông, con voi không chỉ là công cụ vận chuyển, đưa ông đi rừng, giúp ông làm nương rẫy mà voi còn là người bạn thân thiết nhất của ông. Voi biết chia sẻ với ông niềm vui cũng như nỗi buồn, tôn thờ ông bằng một tình cảm trong sáng. Và với voi, ông không bao giờ phải cảnh giác. Ông và voi tin cậy nhau tuyệt đối, thương yêu nhau thật lòng. Chính vì vậy, mỗi khi có con voi chết là ông đau đớn đến hàng tháng. Con voi khi tuổi già sức yếu hoặc lâm bệnh nặng không cứu nổi, biết rằng cái chết đã cận kề, nó liền bỏ đi vào rừng. Nó đi thật xa, thật xa và đơn độc. Những con voi rừng xa lánh nó bởi nó đã mang hơi người... Nó đi mãi, đi mãi cho đến lúc sức tàn, lực kiệt rồi gục xuống. Một điều kỳ lạ là nó thường đến được nơi mà các con voi rừng khi chết già cũng tìm đến đó. Nơi ấy được coi là nghĩa địa của voi.

Ama Kông (phải) cùng con trai Amare

Năm 1940, ông được tỉnh trưởng Buôn Ma Thuột giao cho đi bắt một con voi trắng để biếu Bảo Đại. Voi trắng là con voi do đột biến về nhiễm sắc thể nên có màu trắng bàng bạc. Trong rừng, cứ trung bình 100 con voi thì có một con voi trắng. Vì vậy, voi trắng thường được coi là con vật linh thiêng, và những gia đình bình thường, nếu có bắt được voi trắng thì cũng không dám nuôi mà phải đem bán cho người có vị trí trong vùng. Giá một chú voi trắng thường đắt gấp ba, bốn lần voi thường. Để có voi trắng biếu Bảo Đại, ông dẫn phường săn đi vào rừng phải mất gần một tháng và trải qua bao nhiêu gian khổ mới bắt được một con.

Nhận được voi trắng, Bảo Đại thích lắm và cho đem voi về Đà Lạt. Mãi sau này, khi Bảo Đại lên Đắk Lắk, và đi thăm Bản Đôn ông đã được mời đến ăn cơm cùng. Sau đó, ông còn tặng cho Bảo Đại một con bò tót. Trong những năm anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu cầm quyền ở miền Nam, mỗi lần Nhu đi săn ở Đắk Lắk thì không bao giờ thiếu ông. Nhu là người có chức năng "đàn ông" khá xoàng, cho nên đành phải để cho Lệ Xuân đi "cải thiện" với nhiều người, trong đó có cả cố vấn Mỹ. Ngô Đình Nhu luôn bị ám ảnh về "chuyện ấy" . Biết ông là người "của rừng", Nhu nhiều lần bảo ông kiếm cho các loại thảo dược hoặc mật gấu, mật bò tót, cao hổ... để bồi bổ sức khỏe. Nhưng xem ra chả có loại thuốc nào làm cho ông ta khá lên được.

Ông có 4 đời vợ và có 21 người con nhưng chỉ có 13 người còn sống. Amare, là người kế tục được truyền thống săn voi của ông. Ông là già làng Buôn Ea SupB. Amare cũng là người thợ săn voi nổi tiếng, ông đã bắt được hơn 100 con, tuy nhiên, nhà ông bây giờ không còn con nào. Amare khâm phục bố mình về tất cả mọi lĩnh vực và ông tự thấy, về tài năng, về đức độ, về trí thông minh và đặc biệt về khoản đàn bà, ông còn đứng sau ông bố một khoảng cách rất xa.Năm 1996, sau khi săn con voi thứ 301 trong đời, già Ama Kông giải nghệ và nhận làm hợp đồng cho Khu Du lịch Yok Don.

Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp, vả lại, phải ngủ một mình đối với ông là một cực hình. Thế là ông cưới vợ lần thứ... 4 vào năm 1997. Bà "trẻ" lúc đó mới 31 tuổi, còn ông thì đã... 82. Bà mang trong mình hai dòng máu: Cha là người Hàn Quốc, mẹ là người Ê Đê. Mặc dù chênh lệch nhau đến hơn 50 tuổi nhưng chưa bao giờ bà "trẻ" không hài lòng về ông, thậm chí đôi khi bà tỏ ý không vui khi thấy ông vẫn còn buông lời trêu ghẹo các cô gái khác.

Bây giờ, ông đã trở về rừng vĩnh viễn. Không biết trên mộ ông người ta có ghi chữ gì không, nhưng với Ama Kông, nếu ghi dòng tiếng Pháp: “Ici, reposer, du Roi des éléphans” - Nơi đây, yên nghỉ Vua voi - Thì tôi nghĩ, cũng rất hay.

Sưu tầm

 

Một chuyến săn voi của dũng sĩ Ama Kông 42 năm trước

Với người thợ săn voi hiếm hoi còn lại ở Bản Đôn, ký ức về chuyến săn voi duy nhất của đời ông cùng “vua voi” Ama Kông, dù đã qua 42 mùa rẫy, vẫn như câu chuyện mới diễn ra ngày hôm qua...

Chuyến săn voi đáng nhớ

Bản Đôn - quê hương của nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng - ngày thứ 2 sau khi dũng sĩ Ama Kông qua đời, vẫn nặng trĩu nỗi buồn. Không gian du lịch vốn sôi động trước kia nay vắng vẻ và trầm lắng. Người dân trong bản tạm gác lại công việc buôn bán, đồng áng, nương rẫy… quần tụ ở ngôi nhà sàn cổ hơn 120 tuổi để viếng “vua voi” trước khi ông được đưa đi chôn cất tại nghĩa trang địa phương.

Được người dân chỉ đường, chúng tôi đã may mắn gặp được một thợ săn voi từng có thời gian “vào sinh ra tử” cùng “vua voi” Ama Kông. Ông là Y Dôl Ê-ban - năm nay 65 tuổi, người dân tộc M’nông, gọi huyền thoại săn voi Ama Kông bằng cậu. Từ ngày “vua voi” vĩnh biệt cõi trần, gia đình ông Y Dôl Ê-ban ít tiếp khách lạ vì kiêng kỵ để tang cho cậu. Hai hôm nay, ông Y Dôl Ê-ban buồn một nỗi buồn kỳ lạ! Trong lòng người Gru này, dũng sĩ săn voi Ama Kông mất đi giống như một cây đại thụ giữa đại ngàn bị cưa đổ.

 


Thợ săn voi một thời tại Bản Đôn - Y Dôl Ê-ban - kể về chuyến săn voi duy nhất trong đời ông cùng Ama Kông cách đây hơn 40 năm.

 

Y Dôl Ê-ban cũng như bao người dân Bản Đôn (huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk), ghi nhớ công ơn của dũng sĩ Ama Kông giúp đồng bào biết cách săn voi, thuần dưỡng voi để đưa voi vào phục vụ cuộc sống, chuyên chở hàng hóa, giúp bộ đội vượt sông Sê-rê-pôk đánh Mỹ, gìn giữ buôn làng...

Ông vẫn nhớ như in chuyến săn voi cùng “vua voi” Ama Kông diễn ra cách đây hơn 40 năm, vào một ngày của tháng 10 năm 1970. Khi đó ông là một trong 10 thanh niên vạm vỡ, khỏe mạnh (gọi là Gru), được Ama Kông chọn đi cùng trong chuyến săn. Sau bao nhiêu ngày chuẩn bị kỹ lưỡng, 10 Gru lên đường với “vua voi” Ama Kông làm trưởng đoàn. Ngoài những dụng cụ chuyên dụng khi bắt voi rừng như mũi nhọn Greo, lọng che nắng mưa, dây thừng, cuộn dây da trâu… kĩu kịt trên lưng voi, đoàn săn còn chuyên chở thêm một khối lượng lương thực, thực phẩm lớn. Chuyến đó đoàn có 5 con voi nhà, mỗi con chuyên chở tương đương 20kg nhu yếu phẩm gồm gạo, nước, thuốc, áo quần, mùng mền.

 


Cảnh săn bắt voi rừng (nguồn ảnh: thegioianh.vn).

 

Sau khi vượt sông Sê-rê-pôk, đoàn thợ săn do “vua voi” Ama Kông chỉ huy tiến về hướng Tây cách Bản Đôn khoảng 35km đường rừng. Sau 7 ngày 7 đêm trong rừng sâu, đoàn săn đã phát hiện ra các dấu chân voi, phán đoán có khoảng 10 con, trong đó có những đối tượng voi con nằm trong tầm ngắm của đoàn.
Sau nhiều ngày bám đuôi đàn voi rừng, mọi kế hoạch của đoàn săn bỗng đổ vỡ khi bất ngờ gặp một đợt mưa bão tầm tã. “Khi dũng sĩ Ama Kông đã lên sẵn kế hoạch thì không may đoàn săn gặp một trận mưa bão tầm tã. Mưa như trút nước 3 ngày 3 đêm, đường sá lầy lội, tầm nhìn hạn chế, cộng với lương thực vơi cạn khiến kế hoạch bị phá sản. Cuối cùng đoàn săn quyết định trở về tay không”, người thợ Y Dôl Ê-ban nhớ lại.

Phong tục khi săn voi

Theo người thợ săn voi Y Dôl Ê-ban, trong khi đi săn, người ta thực hiện nhiều phong tục, nghi thức hay lễ cúng để mong cho đoàn săn “thuận buồm xuôi gió”, gặp được voi rừng và bắt được chúng. Theo đó, trước khi đoàn thợ săn khởi hành, những người thợ chính và thợ phụ trong chuyến săn tập trung tại tư gia của “vua voi” Ama Kông, đồng thời mang cả voi đến.

Chuyến đi săn năm 1970 ấy, lễ cúng được bày biện với lễ vật là 5 con gà, 5 ché rượu cần, cùng một số lễ vật khác liên quan theo phong tục địa phương. Lễ cúng kết thúc, mọi người trong đoàn săn cùng người thân ăn uống, chúc cho nhau chuyến săn sẽ thành công tốt đẹp. Lễ cúng tiến hành buổi sáng thì buổi chiều khi mặt trời bắt đầu chạng vạng, đoàn săn khởi hành.

 

Thuần dưỡng voi rừng (ảnh chụp lại của Trung tâm Du lịch Bản Đôn).

 

Điều đặc biệt, người thợ tham gia vào chuyến săn voi phải tuyệt đối kiêng kỵ không dùng xà bông thơm, không đi đám ma, không tiếp khách lạ tại gia đình trước khi đi bắt voi. Người vợ của thợ săn voi tham gia chuyến săn ở nhà cũng không tiếp khách, không làm chuyện “thị phi” và treo cây tươi thông báo trước cửa nhà.

Trước chuyến săn, theo lời kể của ông Y Dôl Ê-ban, “vua voi” Ama Kông thường tập trung các thợ chính để hoàn thiện các “miếng đánh”, sự phối hợp nhuần nhuyễn, ăn ý giữa thợ chính và thợ phụ, luyện tập cho các Gru lần đầu theo đoàn thành thạo phương thức, cách thức “bày binh bố trận” khi săn voi.

Dù đoàn bắt voi kết thúc thành công mỹ mãn hay phá sản kế hoạch không bắt được voi, khi đoàn trở về buôn làng đều phải làm lễ cúng thông báo cho lâm thần, thủy thần biết. Thợ săn voi Y Dôl Ê-ban cho biết, chuyến săn bất thành của ông đi cùng “vua voi” Ama Kông năm 1970 sau khi trở về buôn dù không bắt được con voi nào nhưng theo phong tục một lễ cúng được bày biện ở bến nước của buôn gồm 1 ché rượu cần, 1 con gà để thông báo với thần rừng, thần sông: “Voi và người trong đoàn đã đến buôn rồi! Cảm tạ thần rừng, đoàn săn đã đi khỏe, về khỏe!”, thợ săn Y Dôl Ê-ban nói về ý nghĩa của lễ cúng.

 

Voi nhà tại Bản Đôn

 

Đó là lễ vật của chuyến săn không bắt được voi, còn chuyến săn thành công bắt được voi, lễ vật cúng cảm tạ cho thần sẽ “đình đám” hơn. Theo đó, đoàn săn sẽ hạ 3 con heo, cúng 3 ché rượu cần cùng nhiều lễ vật quan trọng khi đưa voi về. Khi đó cả Bản Đôn rình rang chen nhau chúc mừng thâu đêm suốt sáng.

Săn được voi rồi, người ta không buộc voi trong buôn cho bà con “chiêm ngưỡng” mà cột voi cách bản khoảng 2km cuối bìa rừng, giáp ranh với bản để đề phòng bất trắc ngoài ý muốn, không may đứt dây buộc, voi sổng ra ngay nguy hiểm. Khi voi rừng đã bớt sợ hãi, người ta bắt đầu tiến hành một số nghi thức cúng voi theo phong tục trước khi giao cho các thợ thuần dưỡng giàu kinh nghiệm tiếp quản.

Hiện nay Nhà nước đã cấm việc săn bắt voi, nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng tại làng nghề Bản Đôn chỉ còn trong ký ức của người dân. Tuy nhiên, tại Bản Đôn vẫn còn lưu giữ được nhiều công cụ săn bắt voi của các Gru xưa. Những tập tục, phong tục kiêng cữ khi săn voi vẫn còn được lưu giữ, góp phần làm phong phú, tô đậm nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Sưu tầm

 

 

“Gió hoang” về với đại ngàn

Có lẽ, trong tất cả các thứ danh phẩm mà thiên hạ dùng để gọi như: "Vua”, "Vua voi”, "Vua thuốc”, "Vua của các cuộc tình”… thì cuối đời có lẽ cái tên mà một văn sỹ đã có lần đến thăm, bất chợt dùng gọi đã làm ông thích nhất: "Gió hoang đại ngàn”. Cách gọi này có lẽ đúng và tổng quát nhất về cuộc đời, tài năng cũng như bản tính Ama Kông ấy, nay đã về với đại ngàn ở tuổi 102.

 

 

Bộ đồ săn bắt voi của Ama Kông

 

Sinh ra để nổi tiếng

 

Vùng cao nguyên đất đỏ hùng vĩ Tây Nguyên, nơi có tới 40 dân tộc anh em sinh sống, trong nhiều người nổi tiếng thì có hai con người khi nói đến ai cũng biết đó là Nơ Trang Lơng và Vua săn voi Ama Kông. Nơ Trang Lơng nổi tiếng về cuộc chiến tranh du kích chống Pháp còn Ama Kông lại nổi tiếng về sự chinh phục của mình với đại ngàn, nhất là với loài voi hoang dữ.

 

Miền đất Tây Nguyên trước đây, các loài động vật của đại ngàn thì voi luôn được con người chú ý đến. Người ta quý voi nhưng người ta cũng sợ voi với bản tính hoang dã của nó. Săn bắt, chinh phục và thuần dưỡng voi trở thành loài vật có ích đã trở thành ước muốn của nhiều người nhưng không phải ai cũng có một khả năng và nghị lực này. Để bắt, chinh phục, thuần dưỡng voi đòi hỏi phải có một khả năng riêng biệt ngoài sức khỏe. Và sự ra đời của Ama Kông như một kỳ ban của tạo hóa để cho nghề săn voi ở đây nổi danh với thiên hạ và nổi danh về một con người!

 

Ama Kông sinh năm 1910 (1917 theo khai sinh) tại Bản Đôn, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk). Thấy người ta bảo, lúc sinh ra, Ama Kông đã có những tướng mạo khác thường, mà nhìn tướng ấy không ai bảo sau này sẽ không làm được chuyện gì đó cho đời. Ama Kông tên thật là Y Prông Êban. Ông ngoại của Ama Kông có tên là Y Thu Knul, vốn là người từng nổi tiếng về săn bắt voi của Tây Nguyên. Sau, do cuộc đời bắt được tới 500 con voi và đã đem con voi đực màu trắng duy nhất sang làm quà cho vua Xiêm – La, nên đã được trọng đãi và ban tặng cho tên Khun Ju Nốp - Nghĩa là vua săn voi. Do không có con nên Kun Ju Nốp đã đem Ama Kông về nuôi dưỡng từ nhỏ.

 

Với khí phách bẩm sinh, lại được sớm ở gần vua săn voi Khun Ju Nốp – ông ngoại mình nên dường như "hạt giống” săn voi Ama Kông đã được đặt ươm vào một mảnh đất hết sức màu mỡ và thuận lợi. Là con người sinh ra của sự kết hợp giữa hoang vu và đại ngàn nên không như những người bình thường khác, năm 13 tuổi Ama Kông đã sớm bộc lộ tài năng và đam mê này. Cũng chính trong năm này, bằng con mắt "nhìn xa trông rộng” với đứa cháu ngoại mà mình đã có công nuôi dưỡng, Khun Ju Nốp đã chính thức cho Ama Kông tham gia đợt săn voi đầu tiên trong một đoàn thợ phụ.

 

Quả đúng như dự đoán và cái tài nhìn nhận của vua săn voi Khun Ju Nốp, chỉ sau chưa đầy 4 năm "hồ thợ”, đứa cháu ngoại của Khun Ju Nốp đã nhanh chóng trưởng thành và được đưa vào thợ chính trong săn voi năm 17 tuổi. Và cũng chính mùa săn voi của năm thứ đầu tiên làm thợ chính này, Ama Kông đã nhanh chóng đưa tên tuổi của mình rền vang Tây Nguyên, rền vang các phường săn voi khi chính thức bắt được tới 5 voi rừng thuộc loại hung dữ nhất trong các đàn voi rừng. Mỗi chuyến săn voi bình thường kéo dài khoảng 15 ngày, như vậy cứ trung bình 3 ngày Ama Kông bắt được 1 con. Việc này không chỉ đem lại sự kính phục mà còn mang đến kinh ngạc cho cả vua Khun Ju Nốp cũng như toàn bộ vùng Tây Nguyên rộng lớn hồi đó.

 

Những người đã từng tham gia bắt voi trong đội dũng tượng của Ama Kông cho biết có lẽ không có gì dũng mãnh, táo tợn và… đẹp mắt bằng việc được tận mắt chứng kiến ông thể hiện kỹ thuật bắt voi hết sức điêu luyện của mình. Con người ông lúc ấy, là sự kết hợp đến tột đỉnh của thăng hoa giữa sức lực con người và cơn cuồng phong dũng mãnh của đại ngàn. Nhiều kỹ thuật săn voi của ông đạt đến độ kỹ nghệ khi ông thúc voi nhà dồn voi rừng và quăng dây hết sức điệu nghệ, chính xác vào cổ, vào chân voi nhà để ghìm chân chúng lại khi có ý định dùng sức mạnh để vùng vẫy vượt về đại ngàn.

 

Bằng tài nghệ của riêng mình và việc tổ chức cánh quân săn voi, từ năm 17 tuổi đến khi Ama Kông bước vào tuổi 86 ông đã săn bắt, thuần dưỡng và chinh phục được tới 291 con voi. Trong những con voi này, đã có những con voi nổi tiếng được ông thuần dưỡng có tên là Khăm Thưng với sự thông minh và tài vô địch trong các Hội đua voi được tổ chức hằng năm ở Tây Nguyên. Năm 1996, tuy tuổi đã cao nhưng với bản chất "gió hoang” của đại ngàn thức giấc, ông đã tổ chức một đợt săn voi nữa trong đời. Thời gian này, tuy voi của Tây Nguyên và các vùng lân cận đã hiếm. Với bản chất sinh tồn để tồn tại với thiên nhiên nên chúng đã trở nên ranh khôn. Nhưng trước tài năng của Ama Kông, voi rừng vẫn bị khuất phục. Và trong lần săn voi cuối đời này, ông đã ghi một dấu ấn khá đậm nét nữa khi đem về buôn, về đất Tây Nguyên tới 7 con voi săn bắt được.

 

 

Ama Kông – con người của huyền thoại

 

Huyền thoại vùng đất bazan

 

Tài năng của Ama Kông về săn voi có lẽ chỉ thua ông ngoại mình về số đầu voi rừng đã săn bắt được và trở thành kỷ lục thứ 2 về săn voi trên vùng đất Tây Nguyên đến nay chưa ai phá được. Bằng tài năng riêng biệt, ông đã trở thành con người huyền thoại, được các anh em dân tộc trên vùng đất đỏ bazan này lấy làm niềm tự hào cho mình.

 

Tiếp tục làm nghề săn bắt voi trong rừng, bằng sự kính trọng ông đã được nhiều người gọi là vua Voi của Cao Nguyên trung phần. Khả năng của ông đã vượt qua biên giới quốc gia khi ông đem voi tặng cho vua Thái Lan, vua Lào. Khả năng của ông cũng đã được nhiều nhân vật nổi tiếng một thời chú ý đến như được Hoàng đế Bảo Đại mời đi săn, được Tổng thống Ngô Đình Diệm ưu ái khi ông đem tặng một con voi trắng… Không chỉ đam mê với nghề săn voi, do ý thức được vai trò của voi và những đóng góp của mình nên ông không nề hà đem rất nhiều voi để tặng cho cách mạng. Nhờ những con voi rừng thuần dưỡng của ông mà việc gùi đạn dược vũ khí và gùi lương thực cho bộ đội đã đỡ đi rất nhiều. Chính bằng sự đóng góp này của ông cho Cách mạng nên ông đã được Bác Hồ tặng giấy khen và kèm theo khoản tiền thưởng 50 nghìn do những đóng góp của ông vào năm 1954.

 

Ama Kông là người đa tài, đây là điều không ai dám phủ nhận về con người ông. Không chỉ săn voi, ông còn thổi được hầu hết các nhạc cụ của các dân tộc trên mảnh đất Tây Nguyên và đào hoa về các cuộc tình. Những cuộc tình do sự ngưỡng mộ về tài năng và sức lực đã đem đến cho ông 4 người phụ nữ - 4 người vợ. Hiện tại, ông có 21 người con, 118 cháu, chắt.

 

Từ săn voi trở thành vua voi và được mệnh danh là "ngọn gió hoang vu của đại ngàn” Ama Kông đã về với đất mẹ - miền đất đỏ bazan khi 102 tuổi. Ama Kông - huyền thoại săn voi sẽ sống mãi với 40 dân tộc trên mảnh đất Tây Nguyên và mọi người.
Đơn Thương

 

Sưu tầm